20 thg 8, 2009

SQL Server 2000

ss

Linh Tinh 2

BÀN VỀ ARRAYLIST TRONG C#

Array (mảng) có lẽ là 1 gia vị quá đỗi quen thuộc đối với chúng
ta, từ 1 anh sinh viên năm nhất tập tễnh bước vào thế giới lập
trình với ngôn ngữ Pascal, cho đến những bạn đang theo đuổi
nghiệp coding như chúng ta. Ứng dụng của mảng trong các bài
tập ở các ngôn ngữ C/C++ là rất lớn. Nhưng…có 1 điều khó
khăn mà chúng ta gặp phải khi sử dụng chúng là sự hạn chế
về kích thước cố định của mảng
. Làm sao để giải quyết
vấn đề này nhỉ? Có lẽ các bạn cũng đã có cách giải quyết cho
riêng mình, riêng tôi, với việc C# cho ra đời “baby” ArrayList,
tôi có vỗ ngực nói với bạn bè “he he,mình đã giải quyết
được vấn đề kích thước của mảng rồi”.ArrayList ra đời đã
giải quyết được khuyết điểm của mảng trong các ngôn ngữ
đi trước nó. Nào, bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu “em bé”
ArrayList có mặt mũi vuông tròn như thế nào nhé. LET’S GO!

Trong C#, muốn thao tác với ArrayList, không có cách nào
khác hơn là bạn phải dùng đến class ArrayList được xây
dựng sẵn. Lớp ArrayList này cung cấp cho bạn những
phương thức và thuộc tính cơ bản sau:

PUBLIC PROPERTIES – CÔNG DỤNG

Capacity : trả về hoặc cho thiết đặt số phần tử mà
ArrayList có thể chứa.
Count : cho biết số phần tử hiện có trong ArrayList
IsFixedSize: trả về một trị bool cho biết liệu Array
List mang kích thước cố định hay không
IsReadOnly: trả về 1 trị bool cho biết liệu xem Array
List thuộc loại ReadOnly hay không
Item: trả về hoặc thiết đặt phần tử mảng về chỉ mục
được chỉ định. Trên C#, thuộc tính này là indexer
(bộ rảo chỉ mục) đối với class ArrayList

PUBLIC METHODS – CÔNG DỤNG

Add: thêm 1 đối tượng vào cuối ArrayList
AddRange: thêm các phần tử của một Icolletion vào
cuối ArrayList
BinarySearch: sử dụng giải thuật binary search
để xác định vị trí của một phần tử hoặc một phần trên
ArrayList đã được sắp xếp
Clear: xóa sạch ArrayList
Clone: tạo 1 bản sao của ArrayList
Contains: xác định 1 phần tử nào đó có nằm trong
ArrayList hay không
CopyTo: Sao chép ArrayList hoặc 1 phần tử nào đó
sang mảng 1 chiều
IndexOf: trả về zero-based index của sự xuất hiện
đầu tiên của 1 trị trên ArrayList hoặc trên 1 phần mảng
Insert: chèn thêm 1 phần tử vào ArrayList tại chỉ mục
được chỉ định
InsertRange: chèn các phần tử của 1 collection vào
ArrayList tại chỉ mục được chỉ định
LastIndexOf: trả về zero-based index của sự xuất
hiện cuối cùng của 1 trị trên ArrayList hoặc trên 1 phần mảng
Remove: gỡ bỏ sự xuất hiện đầu tiên của một specific
object ra khỏi ArrayList
RemoveAt: gỡ bỏ những phần tử tại chỉ mục được chỉ
định của ArrayList
RemoveRange: gỡ bỏ 1 khoảng phần tử từ ArrayList
Reverse: đảo ngược thứ tự của các phần tử trên ArrayList.
SetRange: sao chép các phần tử của một collection
chồng lên 1 phần phần tử trên ArrayList
Sort: sắp xếp các phần tử trên ArrayList hoặc trên
1 phần mảng
ToArray: sao chép các phần tử của ArrayList về 1 bản dãy
TrimToSize: thiết đặt khả năng về số phần tử hiện
hành trên ArrayList

Lưu ý: khi bạn tạo 1 ArrayList, bạn không thể xác định
sẽ có bao nhiêu đối tượng trong mảng. Bạn thêm phần
tử vào ArrayList bằng cách dùng hàm Add() và ô liệt
kê sẽ tự mình lo việc “giữ sổ sách” nội bộ đúng tình trạng.
Bạn cũng nên lưu ý 1 điều là sức chứa ban đầu mặc định
của ArrayList là 16, do đó khi bạn thêm phần tử thứ 17
thì kích thước mặc định này sẽ tăng gấp đôi lên thành 32.

Sau đây là 1 thí dụ đơn giản về ArrayList được lấy từ MSDN:
CODE -:- Thư Viện Chia Sẻ IT Việt Nam
using System;
using System.Collections;
public class SamplesArrayList
{

public static void Main()
{

// tạo 1 thể hiện của ArrayList
ArrayList myAL = new ArrayList();
myAL.Add("Hello");
myAL.Add("World");
myAL.Add("!");

// Hiển thị thuộc tính và giá trị trong ArrayList
Console.WriteLine( "myAL" );
Console.WriteLine( " Count: {0}", myAL.Count );
Console.WriteLine( " Capacity: {0}", myAL.Capacity );
Console.Write( " Values:" );
PrintValues( myAL );
}

public static void PrintValues( IEnumerable myList )
{
foreach ( Object obj in myList )
Console.Write( " {0}", obj );
Console.WriteLine();
}

}


/*
This code produces the following output.

myAL
Count: 3
Capacity: 16
Values: Hello World !

*/

Winform C# Part 7

ss

Winform C# Part 6

ss

Winform C# Part 4

ss

Winform C# Part 3

ss

Winform C# Part 2

CONTROLS OF WINFORMS

































Linh Tinh

Ứng dụng tin tức đơn giản với ASP.NET


Bài viết sẽ hướng dẫn bạn các bước cơ bản trong quá trình phát triển một ứng dụng: từ bước phân tích yêu cầu, phân tích chức năng, thiết kế hệ thống và hiện thực. Tổng quan, loạt bài viết sẽ gồm các phần sau đây:





Giới thiệu ứng dụng tin tức, phân tích yêu cầu và chức năng
Phân tích và thiết kế ứng dụng theo mô hình 3 lớp logíc
Phát triển ứng dụng, phần quản lý
Phát triển ứng dụng, phần trình bày tin tức
Tổng kết và hướng phát triển

Giới thiệu ứng dụng tin tức, phân tích yêu cầu và chức năng.


Trong bài đầu tiên này, tôi sẽ trình bày những yêu cầu của ứng dụng tin tức mà chúng ta sẽ phát triển. Không cần định nghĩ gì nhiều, các bạn có thể ghé thăm các website như Tuổi Trẻ Online, VNExpss, ViệtNamNet để có thể hình dung một ứng dụng quản lý tin tức sẽ như thế nào. Khi các bạn xem qua các trang này, sẽ thấy có nhiều chuyên mục, mỗi chuyên mục sẽ có nhiều tin tức. Hệ thống quản lý tin tức sẽ giúp các biên tập viên, các quản trị viên của website có thể gửi những nội dung mới lên website một cách dễ dàng nhanh chóng, không cần phải có kiến thức về HTML hay Web design nhiều cũng có thể tạo được các trang web như vậy.

Như đã nói ngắn gọn ở trên, một ứng dụng quản lý tin tức sẽ cho phép người sử dụng(ở đây là các biên tập viên, quản trị viên của website) thực hiện các công việc sau:
- Dễ dàng tạo mới và chỉnh sửa các chuyên mục cần thiết
- Dễ dàng gửi một tin tức mới vào một chuyên mục nào đó: nhập nội dung, upload hình ảnh đi kèm…
- Lưu trữ/Phục hồi tin tức cũ
- Quản lý các thông tin phản hồi

Ngoài ra, hệ thống quản lý tin tức cũng phải cung cấp các chức năng sau đây cho người xem tin:
- Cho phép người dùng xem qua các tin mới nhất
- Cho phép người dùng xem các tin trong một chuyên mục nào đó
- Cho phép người dùng tìm kiếm một tin tức nào đó thỏa mãn một điều kiện nào đó, ví dụ như tìm các tin có từ “Cúm gà” và có ngày đăng từ tháng 2 năm 2005 trở lại đây…
- Gửi một tin nào đó cho bạn bè, hoặc in ra máy in để xem
- Gửi ý kiến/phản hồi của mình về nội dung một tin nào đó
- Ngoài ra còn một số chức năng nâng cao khác như cho phép người dùng định nghĩa những chuyên mục nào là yêu thích nhất để xem trên trang chủ… nhận email thông báo khi có tin mới đăng…

Ứng dụng quản lý của chúng ta đơn giản sẽ chỉ tập trung vào giải quyết một số chức năng cơ bản là:
- Quản lý các chuyên mục: cho phép tạo, sửa, xóa các chuyên mục
- Quản lý các tin tức trong chuyên mục: cho phép gửi tin mới, sửa tin cũ, hoặc xóa hẳn một hay nhiều tin nào đó
- Liệt kê các tin mới nhất cho người xem
- Liệt kệ danh sách các chuyên mục hiện có
- Liệt kê các tin trong một chuyên mục nào đó
- Trình bày thông tin chi tiết của một bản tin

Với các chức năng này, các bạn hình dung ứng dụng của chúng ta sẽ gồm 2 phần chức năng chính. Một phần dành cho các biên tập viên và quản trị viên quản lý các chuyên mục/tin tức và một phần dành cho người xem tin. Các bạn cũng đã hình dung được một ứng dụng tin tức thường có những chức năng cơ bản nào. Trong bài viết sau tôi sẽ trình bày cách phân tích và thiết kế ứng dụng của chúng ta dựa trên mô hình 3 lớp.

Mô hình 3 lớp (3layers)

Trong bài viết này không có tham vọng trình bày lại chi tiết mô hình thiết kế ứng dụng đa lớp/tầng là như thế nào. Chỉ tóm tắt ngắn gọn lại những điểm chính của mô hình 3 lớp, mà cụ thể là 3 lớp logic.

Lưu ý: Các bạn không nên nhầm lẫn khái niệm lớp(layer) trong phần này với khái niệm lớp(class) của các ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng.

Trong phát triển ứng dụng, để dễ quản lý các thành phần của hệ thống, cũng như không bị ảnh hưởng bởi các thay đổi, người ta hay nhóm các thành phần có cùng chức năng lại với nhau và phân chia trách nhiệm cho từng nhóm để công việc không bị chồng chéo và ảnh hưởng lẫn nhau. Ví dụ trong một công ty bạn có từng phòng ban, mỗi phòng ban sẽ chịu trách nhiệm một công việc cụ thể nào đó, phòng này không được can thiệp vào công việc nội bộ của phòng kia như Phòng tài chính thì chỉ phát lương, còn chuyện lấy tiền đâu phát cho các anh phòng Marketing thì các anh không cần biết. Trong phát triển phần mềm, người ta cũng áp dụng cách phân chia chức năng này. Bạn sẽ nghe nói đến thuật ngữ kiến trúc đa tầng/nhiều lớp, mỗi lớp sẽ thực hiện một chức năng nào đó, trong đó mô hình 3 lớp là phổ biến nhất. 3 lớp này là gì? Là psentation, Business Logic, và Data Access. Các lớp này sẽ giao tiếp với nhau thông qua các dịch vụ(services) mà mỗi lớp cung cấp để tạo nên ứng dụng, lớp này cũng không cần biết bên trong lớp kia làm gì mà chỉ cần biết lớp kia cung cấp dịch vụ gì cho mình và sử dụng nó mà thôi.

Mô hình 3 lớp mà Microsoft đề nghị dùng cho các hệ thống phát triển trên nền .NET như sau:



Bạn có thể tham khảo chi tiết các đề nghị thiết kế các thành phần trong lớp này như thế nào ở đây:
http://www.microsoft.com/Downloads/details.aspx?familyid=A08E4A09-7AE3-4942-B466-CC778A3BAB34&displaylang=en

psentation Layer

Lớp này làm nhiệm vụ giao tiếp với người dùng cuối để thu thập dữ liệu và hiển thị kết quả/dữ liệu thông qua các thành phần trong giao diện người sử dụng. Lớp này sẽ sử dụng các dịch vụ do lớp Business Logic cung cấp. Trong .NET thì bạn có thể dùng Windows Forms, ASP.NET hay Mobile Forms để hiện thực lớp này.

Trong lớp này có 2 thành phần chính là User Interface Components và User Interface Process Components.
UI Components là những phần tử chịu trách nhiệm thu thập và hiển thị thông tin cho người dùng cuối. Trong ASP.NET thì những thành phần này có thể là các TextBox, các Button, DataGrid...

UI Process Components: là thành phần chịu trách nhiệm quản lý các qui trình chuyển đổi giữa các UI Components. Ví dụ chịu trách nhiệm quản lý các màn hình nhập dữ liệu trong một loạt các thao tác định trước như các bước trong một Wizard...

Lưu ý : lớp này không nên sử dụng trực tiếp các dịch vụ của lớp Data Access mà nên sử dụng thông qua các dịch vụ của lớp Business Logic vì khi bạn sử dụng trực tiếp như vậy, bạn có thể bỏ qua các ràng buộc, các logic nghiệp vụ mà ứng dụng cần phải có.

Business Logic Layer

Lớp này thực hiện các nghiệp vụ chính của hệ thống, sử dụng các dịch vụ do lớp Data Access cung cấp, và cung cấp các dịch vụ cho lớp psentation. Lớp này cũng có thể sử dụng các dịch vụ của các nhà cung cấp thứ 3 (3rd parties) để thực hiện công việc của mình(ví dụ như sử dụng dịch vụ của các cổng thanh tóan trực tuyến như VeriSign, Paypal...).

Trong lớp này có các thành phần chính là Business Components, Business Entities và Service Interface.
Service Interface là giao diện lập trình mà lớp này cung cấp cho lớp psentation sử dụng. Lớp psentation chỉ cần biết các dịch vụ thông qua giao diện này mà không cần phải quan tâm đến bên trong lớp này được hiện thực như thế nào.

Business Entities là những thực thể mô tả những đối tượng thông tin mà hệ thống xử lý. Trong ứng dụng chúng ta các đối tượng này là các chuyên mục(Category) và bản tin(News). Các business entities này cũng được dùng để trao đổi thông tin giữa lớp psentation và lớp Data Access.

Business Components là những thành phần chính thực hiện các dịch vụ mà Service Interface cung cấp, chịu trách nhiệm kiểm tra các ràng buộc logic(constraints), các qui tắc nghiệp vụ(business rules), sử dụng các dịch vụ bên ngoài khác để thực hiện các yêu cầu của ứng dụng.

Trong ứng dụng của chúng ta, lớp này sẽ chứa các thành phần là CategoryService và NewsService làm nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ quản lý chuyên mục và các bản tin (thêm, xóa, sửa, xem chi tiết, lấy danh sách...).

Data Access Layer
Lớp này thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến lưu trữ và truy xuất dữ liệu của ứng dụng. Thường lớp này sẽ sử dụng các dịch vụ của các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như SQL Server, Oracle,... để thực hiện nhiệm vụ của mình. Trong lớp này có các thành phần chính là Data Access Logic, Data Sources, Servive Agents.

Data Access Logic components (DALC) là thành phần chính chịu trách nhiệm lưu trữ vào và truy xuất dữ liệu từ các nguồn dữ liệu - Data Sources như RDMBS, XML, File systems.... Trong .NET Các DALC này thường được hiện thực bằng cách sử dụng thư viện ADO.NET để giao tiếp với các hệ cơ sở dữ liệu hoặc sử dụng các O/R Mapping Frameworks để thực hiện việc ánh xạ các đối tượng trong bộ nhớ thành dữ liệu lưu trữ trong CSDL. Chúng ta sẽ tìm hiểu các thư viện O/R Mapping này trong một bài viết khác.

Service Agents là những thành phần trợ giúp việc truy xuất các dịch vụ bên ngòai một cách dễ dàng và đơn giản như truy xuất các dịch vụ nội tại.

Chúng ta đã tìm hiểu qua các lớp của mô hình 3 lớp. Lý thuyết hơi nhiều một chút có thể làm bạn khó hiểu vì khả năng trình bày có hạn, nên bây giờ thử tìm hiểu một qui trình cụ thể hơn để biết các lớp này giao tiếp với nhau như thế nào. Ví dụ trong ứng dụng của chúng ta có thao tác tạo một chuyên mục mới, thì các lớp sẽ ltương tác với nhau như sau:

Lớp psentation
- Trình bày một web form, có các text box cho phép người sử dụng nhập tên và mô tả cho chuyên mục
- Khi người dùng nhấn nút tạo trên form này, ứng dụng sẽ thực hiện việc tạo một Business Entity Category mới như đoạn code sau minh họa:

public void CreateNewCategory()
{
Category category = new Category();
category.Name = name.Text;
category.Description = description.Text;

// sử dụng dịch vụ do lớp Business cung cấp để tạo chuyên mục
CategoryService.CreateCategory(category);
}


Lớp Business Logic
Để cung cấp dịch vụ tạo một chuyên mục, thành phần CategoryService sẽ cung cấp hàm sau:

public static void CreateCategory(Category category)
{
// kiểm tra xem tên khóa của chuyên mục đã tồn tại chưa?
...
// kiểm tra tên khóa của chuyên mục có hợp lệ không?
...
// sử dụng DV của lớp Data Access để lưu chuyên mục mới này vào CSDL
CategoryDAO categoryDAO = new CategoryDAO();
categoryDAO.CreateCategory(category);
}


Lớp Data Access
Tương tự, để cung cấp dịch vụ lưu một chuyên mục mới vào CSDL, thành phần CategoryDAO sẽ cung cấp hàm sau (sử dụng ADO.NET để kết nối với CSDL):

public void CreateCategory(Category category)
{
// tạo connection
...
// tạo command, khởi tạo các tham số...
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@KeyName", category.KeyName));
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@Name", category.Name));
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@Description", category.Description));
// lưu dữ liệu
command.ExecuteNonQuery();
}

Phân tích và thiết kế

Ứng dụng của chúng ta sẽ viết bằng ASP.NET 2.0 và SQL Server 2000/2005. Ngôn ngữ được dùng là C#.

Chúng ta đã tìm hiểu qua các thành phần chính trong mô hình 3 lớp, giờ đến lúc bắt tay vào thiết kế các thành phần đó cho ứng dụng tin tức của chúng ta. Trong ứng dụng tin tức mà chúng ta đã tìm hiểu yêu cầu qua bài viết trước, chúng ta thấy có hai đối tượng thông tin chính mà chúng ta cần quản lý là các chuyên mục(category) và tin tức(news). Ứng dụng quản lý của chúng ta sẽ thu thập những đối tượng dữ liệu này từ người dùng(phóng viên, biên tập viên) và trình bày lại cho người sử dụng khác xem(độc giả). Giờ chúng ta bắt tay vào thiết kế các thành phần Business Entities.

Business Entities

Ứng dụng của chúng ta sẽ bao gồm 2 entity chính là Category và News.



Trước hết là Category. Một chuyên mục (Category) sẽ gồm những thông tin sau:

CategoryId: Mã chuyên mục - sẽ được sinh tự động khi tạo mới
Name: Tên chuyên mục. VD: Vi tính, Kinh tế...
KeyName: Tên gợi nhớ dùng để phân biệt chuyên mục với nhau (không được trùng nhau). VD với VNExpss bạn sẽ thấy có Vi-tinh, Suc-khoe...
Description: Mô tả cho chuyên mục. VD: Description cho Vi-tinh là: thông tin mới nhất về công nghệ thông tin của Việt Nam và thế giới...
Picture: Hình ảnh đại diện cho chuyên mục

Trong ứng dụng đơn giản này, chúng ta chỉ thiết kế chuyên mục có một cấp, không có các chuyên mục con, cháu... Và ứng dụng này cũng không có phần quản lý các nhà biên tập viên, nhà báo và cơ chế cấp quyền hạn duyệt bài, gửi bài...Tôi dành phần này cho các bạn phát triển thêm, nhưng tôi cũng sẽ gợi ý cho các bạn cách thiết kế trong phần mở rộng ứng dụng.

Tiếp theo là News. Mỗi một bản tin sẽ có các thông tin sau:

NewsId: mã bản tin. Sẽ được sinh tự động khi tạo mới.
Title: tiêu đề chính của bản tin. VD: Microsoft tuyên bố phá sản!
Subtitle: tiêu đề phụ của bản tin. VD: Bill Gates từ chức!
Excerpt: phần giới thiệu ngắn gọn của bản tin
Authors: danh sách tác giả bản tin. VD: Nguyễn Văn A, Hoàng Thị B
Keywords: danh sách từ khóa chính trong bản tin dùng để tìm kiếm. VD: Microsoft, broken
Body: Đây là phần nội dung chính của bản tin.
Picture: Hình ảnh minh họa cho bản tin.
CreationTime: Ngày giờ tạo bản tin
LastModificationTime: Ngày giờ chỉnh sửa cuối cùng của bản tin
PublishedTime: Ngày giờ bản tin được đăng
TotalViews: Tổng số lượt người xem bản tin
TotalRates: Tổng số lượt người đánh giá bản tin
Rate: Điểm đánh giá trung bình của bản tin
Status: Trạng thái hiện tại của bản tin. Có thể là Writting(Đang viết), Approving(Đang chờ duyệt), Published(Đã được đăng)

Business Service Components

Bước tiếp theo chúng ta sẽ phân tích và thiết kế các Business Service Components. Các thành phần này sẽ làm nhiệm vụ chính cung cấp các dịch vụ cho lớp psentation dùng để lấy và lưu trữ thông tin.



Lớp CategoryService
Chúng ta cần những thao tách chính trên đối tượng dữ liệu Category:
Tạo mới - CreateCategory(Category category)
Cập nhật - UpdateCategory(Category category)
Xóa - DeleteCategory(int categoryId)
Lấy thông tin chi tiết - GetCategory(int categoryId)
Lấy danh sách các category - GetCategories()
Kiểm tra một Key xem có trong database chưa - CheckKey(string keyName). Thao tác này dùng để kiểm tra xem khi tạo mới một category thì KeyName đã tồn tại trong hệ thống chưa. Thao tác này có thể dùng trên lớp psentation để kiểm tra và thông báo lỗi cho người dùng khi họ nhập một tên khóa đã có trong hệ thống


Lưu ý:
Chúng ta sẽ thực hiện các business logic của hệ thống trong lớp này.


Tương tự đối với lớp NewsService, dựa trên những gì yêu cầu chúng ta phân tích ở bài viết đầu tiên, chúng ta cần những thao tác chính sau đây trên đối tượng News:
Tạo mới - CreateNews(News news)
Cập nhật - UpdateNews(News news)
Xóa - DeleteNews(int newsId)
Lấy thông tin chi tiết - GetNews(int newsId)
Lấy danh sách các bản tin thuộc một chuyên mục nào đó, sắp xếp theo tin mới nhất - GetNewsOfCategory(int categoryId, int page, int pageSize, out int totalRecords)
Cập nhật số lần xem của một bản tin - UpdateTotalViews(int newsId)
Cập nhật đánh giá cho một bản tin - UpdateRate(int newsId, int rate)
Tìm bài viết dựa trên từ khóa - SearchNews(string keyWords, int page, int pageSize, out int totalRecords)

Trong các hàm trên, các bạn chú ý đến hàm GetNewsOfCategory. Trong hàm này có các tham số dùng để phân trang các bản tin. Chúng ta cần đến chức năng này vì khi trình bày trên trang tin, chúng ta chỉ trình bày một số lượng có hạn các bản tin của một chuyên mục nào đó chứ không thể trình bày tất cả trên màn hình được. Khi người dùng muốn xem thêm, họ có thể chọn trang tiếp theo hoặc nhấp vào link Xem tiếp, lúc đó ứng dụng sẽ trình bày các bản tin ở các trang tiếp theo. Tham số totalRecords cho chúng ta biết được tổng số bản tin thật sự có trong chuyên mục đó.

Lưu ý: Khi phân tích thiết kế ban đầu bạn không thể nào hình dung được hết các yêu cầu phát sinh để thiết kế trước các thao tác cần thiết. Bạn phải cập nhật bản thiết kế thường xuyên để phù hợp với yêu cầu. Bản thiết kế này vẫn còn thiếu một số chức năng cần thiết mà tôi sẽ trình bày cho các bạn trong bài viết tiếp theo, chúng ta sẽ chỉnh sửa bản thiết kế này trong quá trình phát triển ứng dụng để phù hợp với các yêu cầu phát sinh mà chúng ta chưa nhìn thấy hết khi thiết kế.

Data Access Components

Bây giờ chúng ta sẽ thiết kế các lớp dùng để truy xuất và cập nhật dữ liệu. Các hàm của các lớp DAO cũng khá đơn giản, chỉ làm nhiệm vụ cập nhật dữ liệu vào database và truy xuất dữ liệu từ database. Các bạn cũng thấy chức năng nó giống như trên lớp Business Logic, nhưng ở đây chúng ta không có bất kỳ ràng buộc logic gì, chỉ đơn giản thực hiện việc truy xuất dữ liệu mà thôi. Các business logic đã được kiểm tra trên lớp Business Logic.



Chúng ta tách biệt 2 lớp CategoryDAO (DAO - Data Access Object) và NewsDAO để dễ quản lý và thay đổi khi cần thiết. VD nếu bạn muốn thêm một thao tác truy xuất dữ liệu mới trên đối tượng News, bạn sẽ biết ngay mình phải thay đổi lớp NewsDAO. Nhưng có những thao tác bạn phải cân nhắc nên để nó lớp nào vì nó liên quan đến nhiều đối tượng, lúc đó bạn phải xét xem mục đích chính của thao tác đó là gì, thao tác trên đối tượng dữ liệu chính nào để đưa thao tác đó vào lớp phù hợp.

Thiết kế cơ sở dữ liệu

Do ứng dụng của chúng ta đơn giản nên chỉ có 2 bảng dữ liệu ánh xạ gần như 1-1 với các entities trên lớp Business Logic như sau:



Hiện thực lớp Business Logic & Data Access

Sau khi đã xong bước thiết kế, chúng ta sẽ tiến hành hiện thực 2 lớp Business và Data Access. Các bạn có thể xem source code đính kèm để biết chi tiết cách hiện thực 2 lớp này như thế nào. Lớp psentation sẽ được thiết kế và hiện thực trong bài viết tiếp theo. Phần bên dưới tôi sẽ trình bày một số điểm chính trong cách hiện thực.

Hiện thực Data Access Components

Do ứng dụng của chúng ta đơn giản nên được giới hạn sẽ dùng với CSDL SQL Server 2000/2005 nên lớp này không được thiết kế để chạy cùng lúc với nhiều loại database khác nhau. Chúng ta sẽ dùng cái Stored Procedures để truy xuất dữ liệu an toàn và dễ thay đổi hơn, tránh bị các lỗi như SQL Injection(không thể tránh hoàn toàn nếu bạn không hiện thực đúng). Các bạn có thể xem qua một cách hiện thực một hàm cơ bản như thế nào:

public void CreateCategory(Category category)
{
using (SqlConnection connection = GetConnection())
{
SqlCommand command = new SqlCommand("spCategoriesCreate", connection);
command.CommandType = CommandType.StoredProcedure;
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@KeyName", category.KeyName));
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@Name", category.Name));
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@Description", category.Description));
command.Parameters.Add(new SqlParameter("@Picture", category.Picture));
SqlParameter paramCategoryId = new SqlParameter("@CategoryId", SqlDbType.Int, 4);
paramCategoryId.Direction = ParameterDirection.Output;
command.Parameters.Add(paramCategoryId);
connection.Open();
command.ExecuteNonQuery();
if (paramCategoryId.Value != DBNull.Value)
category.CategoryId = (int)paramCategoryId.Value;
else
throw new DataAccessException(String.Format(Resources.Strings.CreateEntityException, "Category"));
}
}

Stored Procedure spCategoriesCreate đơn giản được viết như sau:

CREATE PROCEDURE dbo.spCategoriesCreate
@Name nvarchar(50),
@KeyName varchar(30),
@Description ntext,
@Picture varchar(256),
@CategoryId int output
AS
INSERT INTO Categories
(
Name,
KeyName,
Description,
Picture
)
VALUES
(
@Name,
@KeyName,
@Description,
@Picture
)

SELECT @CategoryId = SCOPE_IDENTITY()

Hiện thực lớp Business Logic

Hiện thực lớp Business Logic đòi hỏi bạn phải nắm rõ các business logic của ứng dụng. Ví dụ đối với ứng dụng tin tức của chúng ta thì khi tạo một chuyên mục mới, bạn phải kiểm tra xem KeyName của chuyên mục đó đã có trong hệ thống chưa? Nếu có rồi thì phải báo lỗi, và nếu chưa có thì chúng ta kiểm tra KeyName đó có hợp lệ hay không? (Chỉ chứa kí tự alphabet, chữ số, gạch dưới và gạch ngang...).

public static void CreateCategory(Category category)
{
// Has this key name existed?
if (!CheckKey(category.KeyName))
throw new BusinessException(String.Format(Resources.Strings.KeyNameExisted, category.KeyName));
// is this key name valid?
if (!ValidateKey(category.KeyName))
throw new BusinessException(String.Format(Resources.Strings.InvalidKeyName, category.KeyName));
// ok , now save it to database
CategoryDAO categoryDAO = new CategoryDAO();
categoryDAO.CreateCategory(category);
}



Nguồn: aptech


Winform C# Part 5

Đặt vấn đề:
Giả sử ta có danh sách các Field (trường dữ liệu)
Trên Form, tại mỗi control. Ta muốn mỗi lần cho hiện lên thông tin của 1 mẫu tin trong Data Source


Hướng giải quyết:
Từ trước nay thì ta vẫn làm theo cách cổ điển. Là sẽ dùng các biến để lưu dữ liệu tại mẫu tin (record) hiện tại cho đối tượng.
Và mỗi lần di chuyển đến các record khác thì ta lại set dữ liệu vào các control.(…)

Vấn đề phát sinh:
Khi lập trình, thì khi insert hay update hoặc truyền dữ liệu qua lại giữa các class thì cách làm từ trước nay là gọi 1 câu truy vấn và truyền một “lô” các parameter hay là xử lý chuỗi truy vấn rất phức tạp và rắc rối.

Giải pháp
Nếu có khả năng cao hơn thì dùng DataSet. Nhưng trước insert hay update dữ liệu thì phải lấy dữ liệu từ các control đổ vào dataset.

Để giải quyết cho những vướn mắc trên thì trong C# đã đề xuất một hướng đi rất hay và rất tiện dụng, nó đã giải quyết cho lập trình viên rất nhiều thao tác cũng như những xử lý phức tạp kéo theo khác.
Cách giải quyết đó là dùng “kỹ thuật Binding” để kết nối dữ liệu từ data source vào các control trên form. Nhằm hạn chế các thao tác xử lý nêu trên.
Trong C# nó được định nghĩa là Data Binding

Giới Thiệu về Data Binding
- Data Binding là 1 giải pháp cho người phát triển phần mềm, dùng để giải quyết các vấn đề liên quan đến dữ liệu và bề mặt giao diện (GUI) của ứng dụng.
-Data Binding là cách sắp đặt (gắn kết) các thành phần của một data source vào một thành phần GUI và tự động làm việc với dữ liệu. Ta có thể bind một cột (column) vào một TextBox qua thuộc tính Text hoặc có thể bind cả một table vào DataGrid như DataGridView.

Có 2 cách bind dữ liệu vào Windows Forms:
Simple Data Binding – gắn kết dữ liệu đơn giản.
Complex Data Binding – gắn kết dữ liệu phức tạp.

Simple Data Binding là cách gắn kết một - một giữa một thuộc tính của control và một thành phần của data source, và sử dụng control này để hiển thị duy nhất một giá trị một lần.
Ví dụ: gắn kết dữ liệu từ một cột của một table vào thuộc tính Text của một TextBox nào đó trên Form.

Complex Data Binding là gắn kết một control với một hoặc nhiều thành phần data của data source, có thể hiển thị nhiều hơn một giá trị một lần.
Ví dụ: gắn kết dữ liệu từ một table với một ComboBox hay gắn kết dữ liệu từ một table với một dataGridView

Ý nghĩa to lớn của DataBinding
Với Data Binding chúng ta sẽ chỉ set dữ liệu một lần vào các control, và khi dữ liệu trên các control thay đổi thì tại các control khác dữ liệu sẽ được tự động update cho đúng với mẫu tin (record) trong data source.
Data Binding cũng sẽ tự động update những dữ liệu mà chúng ta đã thay đổi tại các control trong quá trình thao tác trên ứng dụng.
Ngoài ra Data Binding còn giúp chúng ta quản lý lỗi dữ liệu tốt hơn. Đồng thời nó cũng tự động định dạng dữ liệu theo đúng dịnh dạng chúng ta sử dụng trên các control.
Chính vì thế Data Binding ra đời nhằm gói gọn tất cả các thao tác xử lý, nó giúp chúng ta trình bày dữ liệu một cách nhanh chóng, nó hạn chế việc viết code.

Mình xin hướng dẫn việc kết nối DataBinding vói textbook tuần nay rãnh mình sẽ viết với combox và listbook

Các bước chuân bị:
1.Chuẩn bị một table,có thể dùng MS Asscess cho tiện,ví dụ này mình dùng asscess
2.Sử dụng Kỹ thuật Binding

using System;
using System.Collections.Generic;
using System.ComponentModel;
using System.Data;
using System.Drawing;
using System.Text;
using System.Windows.Forms;
using System.Data.SqlClient;
using System.Data.OleDb;

namespace WindowsApplication1
{
public partial class Form1 : Form
{
public Form1()
{
InitializeComponent();
}
//
//khoi tao table cho dtbSinhVien
//
private DataTable DtbSinhvien = new DataTable();
private CurrencyManager cmdSinhVien;
OleDbDataAdapter dadSinhvien;
//
//Form1_Load
//
private void Form1_Load(object sender, EventArgs e)
{
try
{ //khoi tao connect
string connString = "Provider = Microsoft.Jet.OleDb.4.0; Data Source=data.mdb";
OleDbConnection conn = new OleDbConnection(connString);
//lay tong tin tu table
string selectCmd = "SELECT * FROM SinhVien";
dadSinhvien = new OleDbDataAdapter(selectCmd, conn);
//fill cho DtbSinhVien
dadSinhvien.Fill(DtbSinhvien);
BuildDataBinding();
conn.Close();
}
catch (OleDbException ex)
{
MessageBox.Show(ex.Message);
}
}
//
//BuildDataBinding();
//
private void BuildDataBinding()
{
TB_MSSV.DataBindings.Add("Text", DtbSinhvien, "MSSV");
TB_HoTen.DataBindings.Add("Text", DtbSinhvien, "HoTen");
TB_NgaySinh.DataBindings.Add("Text", DtbSinhvien, "NgaySinh");
TB_Khoa.DataBindings.Add("Text", DtbSinhvien, "Khoa");
TB_NienKhoa.DataBindings.Add("Text", DtbSinhvien, "NienKhoa");
TB_DiemTrungBinh.DataBindings.Add("Text", DtbSinhvien, "DiemTrungBinh");
TB_XepLoai.DataBindings.Add("Text", DtbSinhvien, "XepLoai");
//
//su dung BindingContext,muc dich la de giai quyet van de nhieu CurrencyManager
//
cmdSinhVien = (CurrencyManager)this.BindingContext[DtbSinhvien];
//
//tao thuoc tinh cho PositionChanged bien cmdSinhVien
//
cmdSinhVien.PositionChanged += new EventHandler(cmdSinhVien_PositionChanged);

}
//
//ham cmdSinhVien_PositionChanged
//
private void cmdSinhVien_PositionChanged(object sender, EventArgs e)
{
Label_Thongtin.Text = "Sinh Vien thu " + (cmdSinhVien.Position + 1).ToString() + " trong tong so " + cmdSinhVien.Count.ToString() + " Sinh Vien";
}
//
//code cho cac button frist,next,last,pre
//
private void BT_Frist_Click(object sender, EventArgs e)
{
cmdSinhVien.Position=0;
}

private void BT_Last_Click(object sender, EventArgs e)
{
cmdSinhVien.Position = cmdSinhVien.Count - 1;
}

private void BT_Previous_Click(object sender, EventArgs e)
{
cmdSinhVien.Position--;
}

private void BT_Next_Click(object sender, EventArgs e)
{
cmdSinhVien.Position++;
}

}
}

Kết quả: Bạn có thể xem thông tin các sinh viên qua CSDL mình vừa tạo ra

Một số vấn đề liên quan:
CurrencyManager:Sau khi các control đã được gắn kết với dữ liệu, ta phải giữ chúng hoạt động nhịp nhàng với nhau khi người dùng thao tác qua lại trên các mẫu tin.
Trong các dữ liệu nguồn .NET, kể các DataSet, cũng không có khái niệm về mẫu tin hiện hành. Bởi vậy nên thay vào đó, đối tượng CurrencyManager sẽ hỗ trợ chúng ta làm việc này một cách dễ dàng.
Lớp CurrencyManager chủ trì việc quản lý hoạt động của tất cả các đối tượng Binding được gắn liền với một dữ liệu nguồn đặc biệt nào đó.
Đối tượng CurrencyManager có một thuộc tính quan trọng đó là Position. Thuộc tính Position này nó sẽ cho ta biết vị trí (index) của mẫu tin hiện thời đang được hiển thị trên các control.
Do đó chúng ta có thể đi đến mẫu tin kế tiếp hoặc lùi về mẫu tin trước một cách khá dễ dàng và thuận tiện.
BindingContext:
Một đối tượng CurrencyManager sẽ hiện hữu đối với mỗi Data Source được dùng cho Simple Data Binding. Như vậy, có thể có nhiều hơn một CurrencyManager cho bất cứ control nào đó.
Hoặc vì control được gắn liền với nhiều hơn một Data Source, hoặc vì control là một thùng chứa đối với các control khác dùng chung nhiều Data Source.
Lúc này BindingContext vào cuộc để đóng gói dưới dạng một tập hợp, một hoặc nhiều đối tượng CurrencyManager.
Muốn nhận một đối tượng CurrencyManager đặc biệt nào đó, đơn giản ta trao dữ liệu nguồn cho thuộc tính BindingContext. Bạn có thể đơn giản nhận được dễ dàng cùng đối tượng CurrencyManager như sau:

Vài bữa mình sẽ trình bày thêm vấn đề update,insert,delete CSDL!Thân chào

Microsoft Visual Studio 2005

MICROSOFT VISUAL STUDIO 2005
Tôi sẽ cùng các bạn tìm hiểu sâu hơn về công cụ lập trình nổi tiếng này!
Trước tiên chúng ta tìm hiểu về Toolbox. Toolbox bao gồm : 1_Standard, 2_Data, 3_Validation, 4_Navigation, 5_Login, 6_WebPasrts, 7_HTML, 8_Crystal Reports, 9_General

- 2_Data

1. GridView ?

2. DataList ?
3. DataListView ?
4. FormView ?
5. Repeater ?
6. SqlDataSource ?
7. AccessDataSource ?
8. ObjectDataSource ?
9. XmlDataSource ?
10. SiteMapDataSource ?
11. ReportViewer ?

Winform C# Part 1

BASIC CONCEPTS OF WINFORMS